1. Bối cảnh
Việt Nam là quốc gia chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của thiên tai do nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa Đông Nam Á và thuộc tâm bão Tây Thái Bình Dương – một trong những “tâm điểm” bão lớn của thế giới. Cùng với điều kiện địa hình đa dạng, trải dài từ miền núi, trung du đến đồng bằng và ven biển, Việt Nam hình thành những đặc trưng khí hậu phức tạp, làm xuất hiện nhiều loại hình thiên tai khác nhau như: bão, nước dâng do bão, lũ, lũ quét, sạt lở đất, hạn hán và xâm nhập mặn.
Bảng 1: Phân loại mức độ rủi ro của các loại hình thiên tai ở Việt Nam
| Rủi ro cao | Rủi ro trung bình | Rủi ro thấp |
| Lũ lụt
Bão Ngập lụt |
Lốc xoáy
Hạn hán Sạt lỡ đất Lũ quét |
Động đất
Sương giá Rét hại |
(Nguồn: JICA.2015. Báo cáo quốc gia Việt Nam: Đánh giá rủi ro thiên tai và Xây dựng kế hoạch liên tục kinh doanh cho các khu công nghiệp tổng hợp trong khu vực ASEAN)
Nhằm nâng cao khả năng cảnh báo và quản lý rủi ro thiên tai, chính phủ đã ra Quyết định 705/QĐ-TTg ngày 7/6/2018 phê duyệt Chương trình cập nhật phân vùng rủi ro và lập bản đồ cảnh báo thiên tai trên phạm vi toàn quốc. Trên cơ sở đánh giá điều kiện tự nhiên, khí hậu và nguy cơ rủi ro, Việt Nam được chia thành 8 vùng thiên tai, mỗi vùng mang những đặc điểm riêng về địa lý, địa hình và chịu ảnh hưởng bởi các loại hình thiên tai đặc thù. Sự phân vùng này giúp nhận diện rõ nguy cơ, hỗ trợ công tác phòng ngừa, ứng phó và xây dựng các giải pháp phù hợp cho từng khu vực.
Bảng 2: Bảng phân loại thiên tai theo vùng miền ở Việt Nam
| STT | Vùng | Đặc điểm địa lý | Loại thiên tai điển hình | Tỉnh / Thành (sau sáp nhập) |
| 1 | Vùng I: Miền núi phía Bắc | Vùng núi cao, địa hình dốc, dân cư thưa thớt | Lũ, lũ quét, sạt lở đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, rét hại, sương muối, mưa lớn, lốc, sét, mưa đá, động đất | Tuyên Quang (Hà Giang + Tuyên Quang), Lào Cai (Lào Cai + Yên Bái), Thái Nguyên (Bắc Kạn + Thái Nguyên), Phú Thọ (Phú Thọ + Vĩnh Phúc + Hòa Bình), Cao Bằng, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Lạng Sơn, Quảng Ninh |
| 2 | Vùng II: Đồng bằng Bắc Bộ & Bắc Trung Bộ | Đồng bằng châu thổ sông Hồng:
Địa hình bằng phẳng, vùng tam giác châu thổ rộng khoảng 15.000 km². Có hai sông lớn (sông Lô và sông Đà) đổ vào sông Hồng, tạo lưu lượng dòng chảy lớn. Toàn vùng tựa vào khu vực địa hình dốc và rừng núi cao phía Bắc và Tây Bắc. Độ cao so với mặt nước biển: phần lớn chỉ khoảng 1m so với mực nước biển, nơi cao nhất chỉ 3m. |
Áp thấp nhiệt đới, bão, nước biển dâng, lũ, ngập lụt, hạn hán, xâm nhập mặn, rét hại, mưa lớn, sạt lở đất do dòng chảy, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy | Bắc Ninh (Bắc Ninh + Bắc Giang), Hà Nội, Hải Phòng (Hải Phòng + Hải Dương), Hưng Yên (Hưng Yên + Thái Bình), Ninh Bình (Ninh Bình + Hà Nam + Nam Định), Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh |
| Vùng ven biển Bắc Trung Bộ
Khu vực ven biển dài, nằm ở phía Bắc miền Trung. Thường xuyên chịu tác động trực tiếp của bão và lũ. Khí hậu khắc nghiệt, đặc biệt vào mùa hè chịu ảnh hưởng của gió Lào khô nóng. |
||||
| 3 | Vùng III: Miền núi Bắc Trung Bộ & Trung Trung Bộ | Vùng núi cao địa hình dốc, gần biển và dân cư thưa thớt, thời tiết của vùng này rất khắc nghiệt, về mùa hè, cả vùng chịu ảnh hưởng của những đợt gió khô nóng có nguồn gốc từ Lào | Áp thấp nhiệt đới, bão, nắng nóng, lũ quét, sạt lở đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, rét hại, mưa lớn, lốc, sét mưa đá. | Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị (Quảng Trị + Quảng Bình), Thừa Thiên – Huế (Thừa Thiên Huế). |
| 4 | Vùng IV: Duyên hải miền Trung | Là một dải đất hẹp nằm giữa dãy Trường Sơn phía Bắc, vùng cao Nguyên Nam Trung Bộ phía Nam và biển Đông, bị chia cắt bởi nhiều nhánh núi vươn ra biển. Khu vực có nhiều sông lớn nhưng ngắn và dốc, lưu vực chủ yếu là đồi núi nên nước chảy nhanh, trong khi các cửa sông thường bị bồi lấp, làm hạn chế khả năng thoát lũ cho đồng bằng. | Lũ, ngập lụt, áp thấp nhiệt đới, bão, nước dâng, hạn hán, xâm nhập mặn, sạt lở đất do dòng chảy, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, mưa lớn. | Đà Nẵng (Đà Nẵng + Quảng Nam), Quảng Ngãi (Quảng Ngãi + Kon Tum), Khánh Hòa (Khánh Hòa + Ninh Thuận) |
| 5 | Vùng V: Đô thị lớn & khu dân cư tập trung | Thường là khu vực đồng bằng, bằng phẳng, địa hình thấp, trũng, hạ tầng cơ sở chưa đáp ứng với mật độ dân cư tập trung đông | Mưa lớn, ngập lụt, bão, áp thấp nhiệt đới, dông lốc | Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM + Bình Dương + Bà Rịa – Vũng Tàu), Cần Thơ (Cần Thơ + Sóc Trăng + Hậu Giang) |
| 6 | Vùng VI: Tây Nguyên, miền núi Nam Trung Bộ & Đông Nam Bộ | Vùng có địa hình cao, chủ yếu là đồi núi, dân cư thưa thớt | Áp thấp nhiệt đới, bão, nắng nóng, hạn hán, lũ, ngập lụt, lũ quét, sạt lở đất do dòng chảy, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, lốc, sét, mưa đá | Quảng Ngãi (như trên – nằm tiếp giáp duyên hải), Gia Lai (Gia Lai + Bình Định), Đắk Lắk (Đắk Lắk + Phú Yên), Lâm Đồng (Lâm Đồng + Đắk Nông + Bình Thuận), Đồng Nai (Đồng Nai + Bình Phước), Tây Ninh (Tây Ninh + Long An), Thành phố Hồ Chí Minh (như trên) |
| 7 | Vùng VII: Đồng bằng sông Cửu Long | Vùng có địa hình bằng phẳng, thấp trũng và được bồi đắp phù sa từ hệ thống sông Mekong, với mạng lưới kênh rạch chằng chịt. Cao trung bình phần lớn dưới 2m so với mực nước biển, khiến vùng này dễ bị ngập lụt, xâm nhập mặn và chịu tác động của lũ từ thượng nguồn Mekong cũng như bão ven biển. | Áp thấp nhiệt đới, bão, lũ, ngập lụt, nước dâng, hạn hán, xâm nhập mặn, sạt lở đất do dòng chảy, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, mưa lớn, dông, lốc, sét, mưa đá | Vĩnh Long (Vĩnh Long + Bến Tre + Trà Vinh), Đồng Tháp (Đồng Tháp + Tiền Giang), An Giang (An Giang + Kiên Giang), Cà Mau (Cà Mau + Bạc Liêu), Cần Thơ (như trên) |
| 8 | Vùng VIII: Trên biển & Hải đảo | Chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của chế độ gió mùa thịnh hành hướng Đông Bắc và Đông Nam | Áp thấp nhiệt đới, bão, gió mạnh trên biển, nước dâng | Các tỉnh ven biển sau sáp nhập: Quảng Ninh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Khánh Hòa, Lâm Đồng (có phần ven biển), Cà Mau |
Do đặc điểm địa lý tự nhiên, Việt Nam thường xuyên chịu ảnh hưởng của lũ lụt, nhất là trong mùa gió mùa (tháng 6–11) và mùa bão (tháng 7–10). Các vùng trũng thấp như đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và dải duyên hải miền Trung là những khu vực bị tác động mạnh nhất. Khu vực này càng dễ bị tổn thương hơn trước mức độ ngày càng nghiêm trọng của bão và áp thấp nhiệt đới. Sự kết hợp giữa thiên tai ngày càng dữ dội và tình trạng xói mòn đất làm gia tăng nguy cơ lũ quét, sạt lở đất, gây hư hại cơ sở hạ tầng, nhà cửa và thiệt hại gia súc, qua đó làm trầm trọng thêm mức độ dễ bị tổn thương của người dân nông thôn vốn có năng lực chống chịu hạn chế. Ở các đô thị lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh cũng sẽ tác động của lũ lụt ngày càng nghiêm trọng do địa hình thấp, bằng phẳng trong khi hệ thống thoát nước chưa đáp ứng nhu cầu thực tế.
Hình 2: Các địa điểm có nguy cơ ngập lụt cao ở Việt Nam

(Nguồn: JICA.2015. Báo cáo quốc gia Việt Nam: Đánh giá rủi ro thiên tai và Xây dựng kế hoạch liên tục kinh doanh cho các khu công nghiệp tổng hợp trong khu vực ASEAN)
2. Hệ thống luật pháp trong công tác phòng chống và cứu trợ nhân đạo do thiên tai ở Việt Nam
Công tác phòng chống thiên tai và cứu trợ nhân đạo ở Việt Nam được Nhà nước quan tâm từ rất sớm. Ngay từ ngày 22/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 70 thành lập Ủy ban Trung ương hộ đê, là cơ quan tiền thân của Ban Chỉ đạo Quốc gia về Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia hiện nay. Đây là dấu mốc khởi đầu cho quá trình hình thành và phát triển hệ thống pháp luật liên quan đến cứu trợ nhân đạo sau thiên tai.
Hiện nay, Việt Nam đã xây dựng một khung pháp lý tương đối hoàn chỉnh nhằm điều chỉnh hoạt động phòng chống thiên tai và cứu trợ nhân đạo. Nền tảng quan trọng của hệ thống này là Luật Phòng chống thiên tai số 33/2013/QH13, được sửa đổi, bổ sung tại Luật số 60/2020/QH14, nâng các loại hình thiên tai từ 19 lên 22 loại hình thiên tai khác nhau, cùng với các nghị định và thông tư hướng dẫn thi hành.
Để cụ thể hóa các quy định của luật, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản dưới luật, trong đó có:
- Nghị định 66/2021/NĐ-CP ngày 6/7/2021, quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều.
- Nghị định 93/2021/NĐ-CP ngày 27/10/2021, thay thế Nghị định 64/2008/NĐ-CP, quy định về hoạt động vận động, tiếp nhận, phân phối và sử dụng các nguồn đóng góp tự nguyện nhằm hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, sự cố; đồng thời hỗ trợ bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo.
- Nghị định số 131/2025/NĐ-CP của Chính phủ ngày 12/6/2025 quy định phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
- Quyết định số 1585/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 23/7/2025: Tổ chức lại Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia, Ban Chỉ đạo quốc gia về phòng, chống thiên tai, Ủy ban quốc gia qua Ứng phó sự cố, thiên tai và Tìm kiếm Cứu nạn thành Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia
Các văn bản pháp luật này đã tạo thành một hệ thống quy định tương đối đầy đủ và rõ ràng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác cứu trợ nhân đạo, bảo đảm tính minh bạch, thống nhất và phù hợp với yêu cầu thực tiễn tại Việt Nam.
3. Bộ máy tổ chức thực hiện cứu trợ thiên tai
Hoạt động phòng chống thiên tai và cứu trợ nhân đạo ở Việt Nam được triển khai với sự tham gia của nhiều bộ, ngành và tổ chức trong hệ thống chính trị, xã hội. Trước đây, hoạt động này do Ban Chỉ đạo Quốc gia về Phòng, chống thiên tai điều hành, do Thủ tướng hoặc Phó Thủ tướng Chính phủ làm Trưởng ban, và có cơ quan thường trực là Cục Quản lý đê điều và Phòng chống thiên tai (được quy định tại Điều 2 Quyết đinh 198/QĐ-BNNMT ngày 01/3/2025 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường).
Sau Quyết định số 1585/QĐ-TTg ngày 23/7/2025, Ban Chỉ đạo Quốc gia về Phòng, chống thiên tai được sát nhập vào Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia. Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia là tổ chức phối hợp liên ngành, có nhiệm vụ tham mưu và giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, điều phối hoạt động phòng thủ dân sự, phòng chống thiên tai và ứng phó sự cố, thiên tai, tìm kiếm cứu nạn.
Ngoài ra, thành phần Ban Chỉ đạo còn có sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Chữ thập đỏ Việt Nam cùng các tổ chức chính trị, xã hội khác. Ở từng tỉnh/ thành, có các Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn được tổ chức tương ứng, bảo đảm đồng bộ trong chỉ đạo và phối hợp. Tại các địa bàn trọng điểm thiên tai, các đội xung kích Phòng chống thiên tai cấp xã và thôn đã được thành lập và được tập huấn nghiệp vụ. Tuy nhiên, lực lượng này vẫn cần thêm thời gian để tích lũy đầy đủ kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm nhằm đáp ứng tốt yêu cầu ứng phó tại cơ sở.

(Nguồn ảnh: Media Chính phủ)
4. Các nguyên tắc cơ bản trong phòng chống thiên tai
Công tác phòng, chống thiên tai phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản nhằm đảm bảo tính chủ động, hiệu quả và nhân văn, đồng thời là trách nhiệm chung của Nhà nước, tổ chức, cộng đồng và từng cá nhân. Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, còn cộng đồng và mỗi người cần chủ động, hỗ trợ lẫn nhau. Hoạt động này phải được lồng ghép trong quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, dựa trên cơ sở khoa học kết hợp kinh nghiệm truyền thống, minh bạch, công bằng, bình đẳng giới, hài hòa giữa giải pháp công trình và phi công trình, bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu. Phương châm thực hiện là “bốn tại chỗ, ba sẵn sàng”. Bốn yếu tố tại chỗ gồm chỉ huy, lực lượng, phương tiện/vật tư và hậu cần, cùng ba yếu tố sẵn sàng gồm phòng ngừa chủ động, ứng phó kịp thời và khắc phục khẩn trương, hiệu quả. Công tác này cần được phân công, phân cấp, phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng, linh hoạt theo cấp độ rủi ro từng loại thiên tai, nhằm bảo đảm khả năng ứng phó nhanh, toàn diện và giảm thiểu tối đa thiệt hại.
| Các nguyên tắc bao gồm:
1. Phòng ngừa chủ động, ứng phó kịp thời, khắc phục khẩn trương và hiệu quả. 2. Phòng, chống thiên tai là trách nhiệm của Nhà nước, tổ chức và cá nhân, trong đó Nhà nước giữ vai trò nòng cốt; tổ chức và cá nhân chủ động tham gia; cộng đồng hỗ trợ lẫn nhau. 3. Thực hiện phương châm bốn tại chỗ:
4. Lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai vào quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia, địa phương, cũng như trong các ngành. 5. Bảo đảm tính nhân văn, công bằng, minh bạch và bình đẳng giới trong mọi hoạt động phòng, chống thiên tai. 6. Dựa trên cơ sở khoa học, kết hợp kinh nghiệm truyền thống với tiến bộ khoa học – công nghệ; lồng ghép giải pháp công trình và phi công trình; bảo vệ môi trường, hệ sinh thái và thích ứng với biến đổi khí hậu. 7. Thực hiện theo sự phân công, phân cấp và phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng, phù hợp với từng cấp độ rủi ro thiên tai. (Theo Luật số 60/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều; Luật Phòng, chống thiên tai số 33/2013/QH13.) |
